Văn bản pháp luật
TÀI LIỆU HỘI NGHỊ SƠ KẾT CHƯƠNG TRÌNH BĐKH/16-20
Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Chương trình khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016 - 2020

 

BÁO CÁO

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
ỨNG PHÓ VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2016 - 2020

Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia “Khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường giai đoạn 2016-2020”; mã số BĐKH/16-20 được Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ phê duyệt tại Quyết định số 172/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 01 năm 2016 với các mục tiêu như sau:

1. Ứng dụng có hiệu quả công cụ, mô hình tiên tiến trong giám sát biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện Việt Nam; Đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của triều cường, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra tại các vùng trọng điểm (Đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung và Đồng bằng sông Hồng).

2. Cung cấp luận chứng khoa học cho việc đánh giá tiềm năng, giá trị của một số tài nguyên quan trọng trên đất liền và biển, hải đảo, đồng thời đề xuất các định hướng quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia.

3. Làm rõ quan hệ và lượng giá biến đổi khí hậu - tài nguyên - môi trường - hệ sinh thái, theo đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững, quản lý tổng hợp tại một số vùng trọng điểm.  

Để thực hiện 03 mục tiêu trên, Chương trình có 03 nội dung chủ yếu gồm: ứng phó với biến đổi khí hậu; quản lý tài nguyên và môi trường; nghiên cứu cơ sở khoa học đối với những vấn đề có tính tổng hợp, liên ngành và liên vùng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường. Chương trình triển khai ngay sau khi được phê duyệt, đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt triển khai thực hiện 38 đề tài, trong đó 30 đề tài bắt đầu thực hiện từ năm 2016 và 2017, 08 đề tài bắt đầu thực hiện từ quý IV năm 2018. Dưới đây là tóm tắt kết quả thực hiện từ năm 2016 đến nay của 30 đề tài theo các nội dung Chương trình đã được phê duyệt.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN THEO CÁC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

I.1. Nghiên cứu cơ sở khoa học để nhận dạng các tác động của biến đổi khí hậu và sự thay đổi của các hiện tượng khí hậu thông thường phục vụ công tác đánh giá thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Đề tài “Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu tới sự xâm nhập của các đợt lạnh và nóng ấm bất thường trong mùa đông ở khu vực miền núi phía Bắc phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”, mã số BĐKH.25/16-20 được triển khai nhằm nhận dạng các tác động của biến đổi khí hậu và sự thay đổi của các hiện tượng khí hậu thông thường phục vụ công tác đánh giá thực trạng biến đổi khí hậu ở Việt Nam. Trong đó, tập trung nghiên cứu sự xâm nhập của các đợt lạnh và nóng ấm bất thường trong mùa đông ở khu vực miền núi phía Bắc bước đầu đã được làm sáng tỏ. Trên cơ sở tìm hiểu các chỉ tiêu sử dụng trong cảnh báo gió mùa mùa đông ở các nước trong khu vực và Việt Nam, thông qua thống kê của các đợt rét đậm, rét hại diện rộng trên khu vực các tỉnh Băc Bộ nói chung và khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng trong giai đoạn 1979-2017, đã tiến hành phân tích và lựa chọn 04 nhóm chỉ tiêu xác định các đợt lạnh bất thường xảy ra trong mùa đông ở khu vực miền núi phía Bắc. Cụ thể như sau:

Nhóm 1: Chỉ tiêu xác định các đợt lạnh bất thường theo không gian.

+ Một đợt lạnh được coi là bất thường trong mùa đông phải là một đợt KKL gây rét đậm, rét hại trên diện rộng với 2/3 số trạm trong khu vực xảy ra rét đậm, rét hại và có ít nhất 1/2 số trạm trong khu vực dự báo xảy ra rét hại.

+ Trường hợp xảy ra trên 2 khu vực liền kề thì khi tổng số trạm quan trắc được rét hại phải vượt quá 1/2 tổng số trạm quan trắc được trong 2 khu vực liền kề.

Nhóm 2: Chỉ tiêu xác định các đợt lạnh bất thường theo thời gian.

+ Một đợt lạnh bất thường trong mùa đông là một đợt rét đậm, rét hại xảy ra tương đối liên tục trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó có ít nhất hai ngày đạt tiêu chuẩn rét đậm, rét hại diện rộng.

+ Một đợt lạnh bất thường trong mùa đông thể hiện qua số ngày kéo dài của một đợt cho thấy chỉ tiêu xác định trên 10 ngày là tương đối hợp lý.

Nhóm 3: Chỉ tiêu xác định các đợt lạnh bất thường theo hoàn lưu khí quyển

+ Chỉ tiêu xác định các đợt lạnh bất thường theo mức độ giảm nhiệt được xác định qua 2 tiêu chí: 1) Nguồn gốc khối KKL ảnh hưởng là trên khu vực Siberia rộng lớn và khí áp trung tâm của khối KKL phải vượt quá 1070mb; 2) Phải có hoạt động của dòng xiết gió Tây trên khu vực Bắc Bộ.

+ Chỉ tiêu xác định các đợt lạnh bất thường theo mức độ kéo dài được xác định qua tiêu chí tần suất tăng cường và bổ sung của các đợt KKL. Với tiêu chí đợt kéo dài trên 10 ngày và tần suất bổ sung khoảng 2-3 ngày thì phải có ít nhất 4-5 đợt bổ sung liên tiếp.

Nhóm 4: Chỉ tiêu xác định các đợt lạnh bất thường theo mức độ giảm nhiệt

+ Chuẩn sai nhiệt độ trung bình tháng ≤-2,50C

+ Nhiệt độ trung bình ngày giảm xuống dưới 7,00C (Ttb≤ 7,00C)

Như vậy, một đợt lạnh được coi là bất thường xảy ra trong mùa đông ở khu vực miền núi phía bắc phải đồng thới thỏa mãn cả 04 nhóm tiêu chí nói trên.

I.2. Xây dựng, phát triển hệ thống giám sát biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với Việt Nam, đảm bảo hội nhập quốc tế; đề xuất giải pháp, mô hình ứng phó biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý tài nguyên  và đảm bảo an ninh phi truyền thống đối với một số vùng trọng điểm

1. Đề tài Nghiên cứu luận cứ khoa học của hệ thống giám sát tác động của biến đổi khí hậu đến các yếu tố cực trị, hiện tượng khí tượng thủy văn nguy hiểm ở Việt Nam phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững, mã số BĐKH.24/16-20.

Do BĐKH có tác động đến mọi hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, nên việc thiết lập mạng lưới trạm giám sát BĐKH đang là một yêu cầu bức thiết hiện nay. Trạm giám sát BĐKH được lựa chọn trên cơ sở hệ thống mạng lưới trạm KTTV nhằm tiến hành các quan trắc các yếu tố khí hậu phục vụ việc xác định xu thế BĐKH. Số liệu quan trắc tại các trạm khí tượng, khí hậu đóng vài trò then chốt trong đánh giá xu thế và xây dựng kịch bản BĐKH. Vấn đề số liệu càng quan trọng hơn đối với việc đánh giá các cực trị và cực đoan khí hậu. Các trạm giám sát khí hậu BĐKH đòi hỏi phải tiến hành các quan trắc đồng nhất, dài hạn. Để phân tích sự biến đổi của các cực đoan xuất hiện trong một quy mô thời gian ngắn và các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, mưa, gió,... thông thường cần có số liệu quan trắc ở quy mô thời gian là ngày hoặc giờ, với chuỗi thời gian đủ dài.

Kết quả đã đưa ra cơ sở nhằm ước tính số lượng và phân bố các trạm giám sát BĐKH ở Việt Nam; phương pháp, cơ sở và tiêu chí để xây dựng mạng lưới giám sát BĐKH cho Việt Nam. Mạng lưới trạm giám sát BĐKH được lựa chọn tuân thủ các điều kiện: (1) Chuỗi số liệu có thời gian quan trắc dài, chất lượng cao; (2) Trạm quan trắc đại diện được cho sự phân bố địa lý và điều kiện khí hậu tại vùng; và (3) Ít chịu ảnh hưởng trực tiếp mang tính địa phương hoạt động sống của con người. Việc tối ưu hóa mật độ và lựa chọn trạm dựa trên các phương pháp và tiêu chí lựa chọn được đề xuất đối với từng loại trạm khí tượng, thủy văn và hải văn.

Sau khi lựa chọn được mạng lưới trạm giám sát BĐKH, việc đánh giá tính phù hợp của mạng trạm được chọn được thực hiện dựa trên việc tính toán đánh giá xu thế của các yếu tố trong giai đoạn quan trắc cơ sở của cả hai tập hợp trạm. Nếu kết quả cho thấy xu thế của các yếu tố theo hai mạng trạm này là tương đương nhau, chứng tỏ các trạm được lựa chọn là phù hợp.

2. Đề tài Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển kinh tế ứng phó với xâm nhập mặn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long; Thí điểm tại một huyện điển hình, mã số BĐKH.05/16-20.

Mô hình khu kinh tế nông nghiệp (KTNNN) cho thấy nhiều tiềm năng có thể cùng lúc đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế vùng ĐBSCL trong bối cảnh XNM và BĐKH gia tăng.

Hình thành các cụm ngành chuyên biệt, tập trung vào các ngành có lợi thế so sánh là mô hình KKTNN thích hợp nhất cho bối cảnh vùng ĐBSCL, nơi mà chi phí cho các nhân tố đầu vào cao do khó tiếp tín dụng, khó tiếp cận công nghệ sản xuất, kho bãi, và chế biến hiện đại, chi phí giao dịch cao, liên kết lỏng lẻo. Bằng chứng cho thấy rằng các doanh nghiệp (nông nghiệp) có lợi thế so sánh vì có thể tận dụng tốt lao động có tay nghề thấp tại vùng ĐBSCL, đồng thời có khả năng cạnh tranh và nhanh chóng thiết lập mối liên kết hiệu quả với phần còn lại của nền kinh tế trong vùng và trong nước, do đó giảm chi phí cho các nhân tố đầu vào như vốn, lao động, công nghệ. Việc phân cụm các doanh nghiệp với các quy trình khép kín làm giảm chi phí giao dịch bằng cách đạt được các nền kinh tế về quy mô, sự lan truyền tri thức, và các mối liên kết trong và ngoài vùng.

Mô hình KKTNN chỉ có thể và nên được áp dụng khi có sự cải cách chính sách đồng bộ, cho phép sự phối hợp rộng hơn giữa các ngành, các chủ thể kinh tế, các tỉnh trong vùng, và giữa vùng ĐBSCL với những vùng khác. Với các cụm ngành trong KKTNN, cần đánh giá cẩn thận lợi thế so sánh cũng như đảm bảo nhu cầu thị trường sẽ dẫn dắt phát triển sản xuất. Hơn nữa, tính chất tích hợp của các chuỗi giá trị nông nghiệp đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải tiếp cận chuỗi giá trị để cải thiện khả năng cạnh tranh của các chuỗi này.

3. Đề tài Nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế, xã hội bền vững, thích nghi với các hiện tượng thiên tai cực đoan trong bối cảnh biến đổi khí hậu khu vực Nam Trung Bộ. Thử nghiệm cho tỉnh Ninh Thuận, mã số BĐKH.04/16-20.

Duyên hải Nam Trung Bộ gồm các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận có nhiều loại thiên tai thường xuyên xuất hiện bao gồm áp thấp nhiệt đới, bão, lũ lụt, giông sét, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở đất…, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, các dạng thiên tai càng trở nên khốc liệt, khó lường. Các loại hình thiên tai ảnh hưởng rất nhiều đến sinh kế của người dân, gây khó khăn, cản trở việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo và an sinh xã hội của các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ. Trong các dạng thiên tai cực đoan điển hình liên quan đến BĐKH, nghiên cứu này tập trung vào bão và nước dâng do bão, đây là một  loại thiên tai đang được nhiều ban ngành quan tâm.   

Kết quả tính toán đã chỉ ra rằng, mô hình Mike 21FM có khả năng mô phỏng tốt nước dâng trong bão. Theo kết quả này, dưới tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, mực nước tăng cao, khu vực có nguy cơ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của nước dâng do bão là khu vực biển tỉnh Bình Thuận với mức dâng cao nhất là 2.34m, khu vực ít chịu ảnh hưởng nhất là khu vực biển tỉnh Khánh Hòa với mức dâng là 0.78m.

4. Đề tài Nghiên cứu, triển khai hệ thống kiểm kê phát thải khí nhà kính và đề xuất lộ trình giảm nhẹ phát thải khí nhà kính đối với ngành công nghiệp luyện kim, mã số BĐKH.20/16-20.

Việc xây dựng quy trình đánh giá phát thải khí nhà kính trong công nghiệp phục vụ công tác kiểm kê phát thải khí nhà kính trong công nghiệp luyện kim và đề xuất giải pháp giảm thiểu là vấn đề quan trọng được đặt ra. Báo cáo này cung cấp các thông tin ban đầu của các bước trong qui trình xây dựng được và các kết quả đã triển khai quan trắc lượng phát thải khí nhà kính tại các lò luyện cốc và luyện thép và không khí môi trường lao động ở nhà máy luyện thép Lưu Xá. Đây là công việc thu thập số liệu ở bước 2 của qui trình phục vụ tính thải lượng phục vụ chạy mô hình và đánh giá các kết quả nhận được. Các bước còn lại của qui trình xây dựng được đang được triển khai và sẽ báo cáo kết quả khi công việc được hoành thành. Kết quả ban đầu đã xây dựng được quy trình đánh giá phát thải khí nhà kính trong công nghiệp luyện kim gồm 5 bước với thuyết minh chi tiết cho mỗi bước. Trên cơ sở đó đã tiến hành thực nghiệm cho nhà máy luyện thép Lưu xá ở khu Gang thép Thái Nguyên đối với lò luyện cốc và luyện thép. Công việc thu thập số liệu các khí CH4, N2O và CO2 với ba lần lấy mẫu ở bước 2 của quy trình xây dựng được đối với khí thải tại lò và không khí môi trường lao động ở các điểm đo đạc cần thiết để tính toán thải lượng phục vụ chạy các mô hình và đánh giá kết quả. Phương pháp quan trắc EPA Method 18 + TCCS 27:2015/TTPT cung cấp kết quả có độ chính xác đảm bảo yêu cầu cho việc thực hiện các bước tiếp theo của quy trình.

5. Đề tài Nghiên cứu xây dựng hệ số phát thải khí nhà kính quốc gia cho lúa và các loại cây trồng cạn chủ yếu phục vụ kiểm kê KNK và xây dựng các giải pháp giảm nhẹ phát thải KNK của ngành nông nghiệp, mã số BĐKH.21/16-20.

Trong kiểm kê khí nhà kính và tính toán tiềm năng cũng như xác định lượng giảm phát thải khí nhà kính thì hệ số phát thải và phương pháp tính là quan trọng nhất. Qua các lần kiểm kê KNK Quốc gia và thông báo Quốc gia về KNK, Bộ Tài nguyên và Môi trường mới sử dụng hệ số phát thải theo phương pháp bậc một (TIER1) theo IPCC (1996) bản sửa đổi, tức là chỉ 01 hệ số phát thải chung cho cả nước và là số mặc định của IPCC chứ không phải do quốc gia tự xác định. Riêng đối với lúa, chỉ đến lần kiểm kê KNK năm 2010 mới sử dụng 03 hệ số phát thải đại diện cho 03 vùng Bắc, Trung và Nam còn với cây trồng cạn chỉ tính toán phụ thuộc vào hệ số phát thải của phân bón hữu cơ và vô cơ, chưa tính được theo sự thay đổi của khí hậu, đất, cây trồng và mức độ thâm canh. Hệ số phát thải thường đại diện cho tình trạng của các nước OECD. Các hệ số phát thải hiện tại không thể thể hiện được cho những thực hành nông nghiệp mà sẽ ứng dụng vào để giảm phát thải KNK từ nông nghiệp (như các loại phân bón khác nhau, luôn xen canh cây trồng, tưới khô ướt xen kẽ), không thể nắm bắt được những thay đổi về các điều kiện môi trường (như giai đoạn ngập nước trước đo) hoặc thay đổi về mùa vụ trong chế độ ăn uống của gia súc đến tốc độ phát thải KNK. Xu hướng áp dụng hệ số phát thải theo phương pháp bậc 1 không thể đánh giá được các lựa chọn giảm phát thải và giúp đạt mục tiêu tìm kiếm những vùng nào có khả năng giảm phát thải nhiều nhất; không phát huy được tác dụng trong các quy mô địa phương đến vùng. Hơn nữa, phương pháp bậc 1 không thể sử dụng để đánh giá hết tương tác tổng hợp của sự thay đổi vòng tuần hoàn carbon và đạm, là kết quả của áp dụng các biện pháp giảm thiểu như AWD không chỉ giảm phát thải CH4 mà còn làm tăng ô nhiễm môi trường do tăng phát thải N2O từ đất và có thể giảm sự tích luỹ carbon trong đất. Những đánh giá như vậy chỉ có thể sử dụng phương pháp bậc 2 mới có thể giải quyết được. Chính vì vậy “Nghiên cứu xây dựng hệ số phát thải khí nhà kính quốc gia cho lúa và các loại cây trồng cạn chủ yếu phục vụ kiểm kê khí nhà kính và xây dựng các giải pháp giảm nhẹ phát thải khí nhà kính của ngành Nông nghiệp” theo phương pháp bậc 2 là một trong những nhiệm vụ cần thiết và ưu tiên hiện nay để thống nhất toàn bộ hoạt động quản lý và kỹ thuật trong hệ thống quan trắc và kiểm kê khí nhà kính, nhằm xây dựng được “Hệ thống cơ sở đặc thù cho kiểm kê khí nhà kính và phát triển hệ số phát thải Quốc gia cho lĩnh vực trồng trọt”.

Xây dựng bộ số liệu hoạt động về hiện trạng canh tác các cây trồng chủ lực trên các vùng sinh thái khác nhau, từ đó đưa ra kế hoạch quan trắc thích hợp để đảm bảo tính chính xác cho công tác đo lường phát thải khí nhà kính và xây dựng bộ hệ số phát thải cho từng đối tượng cây trồng cụ thể như sau:

- Cây lúa: Vùng đồng bằng sông Hồng trên đất phù sa, đất xám và đất mặn với cơ cấu 02 lúa; 02 lúa-01 màu; Vùng Bắc Trung Bộ trên đất phù sa, đất xám và đất cát biển với cơ cấu 02 lúa; 02 lúa-01 màu; 01 lúa-02 màu; Vùng Nam Trung Bộ trên đất phù sa, đất xám và đất cát biển với cơ cấu 02 lúa; 02 lúa-01 màu; 01 lúa-02 màu; Vùng Đồng bằng sông Cửu Long trên đất phù sa, đất mặn và đất phèn với cơ cấu 02 lúa và 03 lúa;

- Cây ngô và sắn ở vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An);

- Cây chè tại Vùng Tây Nguyên (Lâm Đồng) và Đông Bắc Bộ (Phú Thọ);

- Cây mía tại vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hoá) và Đông Nam Bộ (Tây Ninh);

- Cây cao su tại Vùng Tây Nguyên (Đắc Lắc) và Đông Nam Bộ (Tây Ninh).

Kết quả nghiên cứu bước đầu đã dự kiến được các bước xây dựng hệ số phát thải Quốc gia cho lúa và cây trồng cạn.

I.3. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, vùng, miền.

1. Đề tài Nghiên cứu giải pháp phát triển nuôi trồng thuỷ sản ven biển thông minh thích ứng biến đổi khí hậu (BĐKH) vùng duyên hải Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, mã số BĐKH.18/16-20.

Vùng duyên hải Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ bao gồm 11 tỉnh kéo dài từ Quảng Ninh đến Thừa Thiên Huế là vùng có tiềm năng cho phát triển nuôi trồng thủy sản ven biển. Tuy nhiên, trong bối cảnh gia tăng biến đổi khí hậu (BĐKH), nuôi trồng thủy sản (NTTS) ven biển của vùng hiện đang chịu nhiều tác động trực tiếp và gián tiếp thông qua nguồn nước, môi trường nuôi, con giống, dịch bệnh… và qua đó gây ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và cơ sở hạ tầng của vùng nghiên cứu.

Trong bối cảnh BĐKH đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra hết sức phức tạp như hiện nay, việc áp dụng các mô hình NTTS thích ứng với BĐKH cũng như tăng cường khả năng ứng phó với thiên tai cho người dân ven biển là hết sức cần thiết nhằm thích ứng với những thay đổi của khí hậu, hạn chế tối đa những thiệt hại về người và của cho người dân trước các tác động của BĐKH, ổn định sản xuất, đảm bảo cuộc sống tinh thần và vật chất cho người dân ven biển. Một số mô hình NTTS thích ứng với BĐKH đang được triển khai nghiên cứu tại một số các địa phương nằm trong vùng nghiên cứu như: mô hình thủy sản - rừng, mô hình nuôi xen ghép, mô hình nuôi nhuyễn thể bãi triều và trong ao đầm nước lợ, mô hình nuôi cá biển lồng bè. Các mô hình này đều là những mô hình có tiềm năng ứng phó thông minh với BĐKH khi có thể thỏa mãn được cả 3 trụ cột của “nông nghiệp thông minh” đó là thích ứng BĐKH, giảm thiểu BĐKH và đảm bảo tăng trưởng sản xuất. Phát triển các hệ thống NTTS ven biển ứng phó thông minh với BĐKH và các thực hành thông minh kèm theo là một trong những cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển NTTS ven biển thông minh với BĐKH tại vùng nghiên cứu nói riêng và ven biển Việt Nam nói chung.

Kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài đã tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng nuôi trồng thủy sản, tác động của biến đổi khí hậu tới nuôi trồng thủy sản; một số mô hình nuôi trồng thủy sản hiện nay ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Đồng thời đã tiến hành đánh giá kinh nghiệm phòng tránh thiên tai của người dân ven Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Kết quả cho thấy cộng đồng địa phương cũng đã có những nhận thức nhất định về ảnh hưởng của BĐKH và các giải pháp thích ứng để sản xuất ổn định. Một số các mô hình NTTS có khả năng thích ứng với BĐKH hiện đang được người dân của vùng nghiên cứu áp dụng ở quy mô hộ gia đình có thể kể đến là: mô hình thủy sản - rừng, mô hình nuôi xen ghép, mô hình nuôi nhuyễn thể bãi triều và trong ao đầm nước lợ, mô hình nuôi cá biển lồng bè. Tuy vậy, về nhận thức và năng lực ứng phó với tác động của BĐKH của người dân ven biển khu vực Bắc và Bắc Trung Bộ, kết quả nghiên cứu khảo sát cho thấy còn nhiều hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết về việc đề xuất và thực hiện các giải pháp tăng cường nhận thức và khả năng ứng phó mang tính hệ thống hơn và chủ động hơn cho cộng đồng người nuôi thủy sản khu vực ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung B.

2. Đề tài Nghiên cứu giải pháp khoa học công nghệ để phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển Nam Trung Bộ nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, mã số BĐKH.19/16-20.

Rừng ngập mặn (RNM) khu vực Nam Trung Bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đê cửa sông ven biển, bảo vệ cuộc sống và sinh kế của cộng đồng dân cư ven biển. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng RNM ở khu vực ven biển Nam Trung Bộ thông qua điều tra các ô tiêu chuẩn rừng trồng, rừng tự nhiên đại diện tại 08 tỉnh/thành phố gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận và Bình Thuận. Kết quả điều tra khảo sát cho thấy: Khu vực ven biển Nam Trung Bộ có tổng diện tích rừng và đất ngập mặn là 825 ha, trong đó diện tích có RNM là 360 ha. Diện tích đất trống ngập mặn là 465 ha tập trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Nam và Bình Định, thuộc nhóm dạng lập địa khó khăn với 303,22 ha (chiếm 65,3%). Về thành phần loài cây ngập mặn, bước đầu đã xác định được 21 loài thuộc 12 chi và 10 họ thực vật. Các loài cây được gây trồng tương đối đơn giản, các loài chủ yếu bao gồm: Mắm biển (Avicennia marina (Forssk.) Vierh), Cóc trắng (Lumnitzera racemosa Willd) và Đước đôi (Rhizophora apiculata Blume),..., chất lượng rừng trồng và rừng tự nhiên khu vực ven biển Nam Trung Bộ phần lớn thuộc loại rừng nghèo. Đã ghi nhận thêm vùng phân bố mới của loài Cóc đỏ (Lumnitzera littorea (Jack) Voigt) là loài quý hiếm ở mức VU - mức sẽ nguy cấp trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) tại Ninh Thuận so với trước đây (Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa (Cam Ranh), Bà Rịa-Vũng Tàu (Côn Đảo), Kiên Giang (Phú Quốc), Bạc Liêu); bước đầu phát hiện một loài Giáp xác chân đều có tên khoa học là Sphaeroma terebrans Bate, 1866, thuộc họ Sphaeromatideae, bộ Chân đều Isopoda  hại cây ngập mặn Bần trắng (Sonneratia alba Smith) trên 3 tuổi gây hại RNM ở tỉnh Bình Định. Từ kết quả đánh giá hiện trạng RNM, nghiên cứu đã đề xuất một số định hướng giải pháp lựa chọn và cải thiện giống cây ngập mặn, giải pháp kỹ thuật trồng RNM phù hợp với 3 dạng lập địa: rất thuận lợi, thuận lợi và khó khăn tại khu vực ven biển Nam Trung Bộ.

3. Đề tài Nghiên cứu công nghệ tưới nước thông minh, tiết kiệm bằng hệ thống cảm biến độ ẩm (Soil Moisture Sensor) cho một số loại cây trồng ở vùng hạn hán Tây Nguyên và Duyên Hải Nam Trung Bộ, mã số BĐKH.08/16-20.

Trong những năm gần đây, việc ứng dụng các biện pháp tưới tiết kiệm nước trong sản xuất nông nghiệp đã góp phần giải quyết vấn đề khan hiếm nước trong điều kiện khô hạn và biến đổi khí hậu diễn ra ngày càng khốc liệt ở Việt Nam. Tuy nhiên hạn chế của các công nghệ tưới tiết kiệm hiện nay là chưa xác định được chính xác lượng nước cần tưới và thời điểm tưới. Trong khuôn khổ bài báo này, nhóm tác giả nghiên cứu công nghệ tưới nước thông minh bằng hệ thống cảm biến độ ẩm cho một số loại cây trồng ở vùng hạn hán Tây Nguyên và Duyên Hải Nam Trung Bộ nhằm tìm ra công nghệ tưới nước tiết kiệm, hiệu quả và mang lại hiệu quả kinh tế.

Nghiên cứu đã xác định được nhu cầu sử dụng trước trong các giai đoạn sinh trưởng của cây nho và cây cà phê từ đó ứng dụng phần mềm Cropwat xác định được mức nước cần tưới theo từng giai đoạn sinh trưởng và theo mùa vụ cho hai loại cây nói trên. Đồng thời, đã nghiên cứu chế tạo ra được cảm biến độ ẩm đất xác định bằng phương pháp đo điện dung, xây dựng được hệ thống điều khiển từ xa, đề xuất được mô hình mô phỏng đánh giá khả năng dự báo độ ẩm của cảm biến và độ nhạy của hệ thống tưới thông minh, tiết kiệm góp phần tự động hóa quá trình tưới tiêu, đảm bảo tối đa hiệu quả tưới và chi phí vận hành.

Trong thời gian tới, để áp dụng được kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, cần phải tiến hành vận hành, đánh giá thử nghiệm hệ thống tưới nước thông minh, tiết kiệm dựa vào cảm biến độ ẩm sử dụng công nghệ mạng cảm biến không dây điều khiển từ xa theo giá trị độ ẩm của đất trồng, đánh giá kết quả và đề xuất nhân rộng mô hình.

4. Đề tài Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các vùng đồi núi Bắc Trung Bộ thích ứng với BĐKH, mã số BĐKH.01/16-20.

Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất nông nghiệp cho các vùng đồi núi Bắc Trung Bộ thích ứng với biến đổi khí hậu được tổ chức triển khai bước đầu nhằm đánh giá khả năng chịu hạn của một số giống ngô lai bằng phương pháp gây hạn nhân tạo. Các thí nghiệm được tiến hành theo trình tự: đánh giá khả năng chịu hạn của các giống ngô lai bằng xử lý dung dịch polyethylen glycol 20%; đánh giá khả năng chịu hạn ở giai đoạn cây con và đánh giá khả năng sinh trưởng và năng suất của các giống ngô lai bằng phương pháp gây hạn nhân tạo trong điều kiện nhà lưới. Các thí nghiệm được tiến hành trên 8 giống ngô lai, gồm: CP333, CP111, CP339, DK6919, B265, VN8960, PIONEER 30Y87 và LVN10 (giống đối chứng). Kết quả đánh giá khả năng chịu hạn của các giống ngô lai qua tỷ lệ nảy mầm và phát triển của mầm, rễ mầm sau 07 ngày xử lý hạn bằng Polyethylen glycol 20% cho thấy các giống VN8960, B265, PIONEER 30Y87 có khả năng chịu hạn tốt hơn giống đối chứng LVN10 và các giống còn lại. Bằng phương pháp gây hạn nhân tạo cho thấy 03 giống VN8960, B265, PIONEER 30Y87 có khả năng chịu hạn tốt hơn ở thời kỳ cây con so với các giống khác trong cùng điều kiện thí nghiệm. Các giống B265, VN8960, PIONEER 30Y87 có ưu thế hơn trong 08 giống thí nghiệm về năng suất cao và ổn định trong cả hai chế độ tưới nước, với chế độ tưới đủ ẩm năng suất tương ứng là 63,76 tạ/ha, 65,24 tạ/ha và 62,56 tạ/ha; trong điều kiện khô hạn năng suất tương ứng là 56,12 tạ/ha, 58,62 tạ/ha và 59,42 tạ/ha.

5. Đề tài Nghiên cứu các biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng của hạn hán do BĐKH ở vùng ven biển miền Trung, mã số BĐKH.03/16-20.

Nghiên cứu các biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng của hạn hán do biến đổi khí hậu ở vùng ven biển miền Trung bước đầu được tiến hành theo hướng sử dụng than sinh học kết hợp với phân bón nhằm tăng hiệu lực của phân bón với cây trồng. Than sinh học (TSH) là sản phẩm được sản xuất trong quá trình nhiệt phân các hợp chất hữu cơ trong điều kiện yếm khí hoặc không có không khí. Than sinh học có chứa hàm lượng các bon cao khi bón vào đất làm tăng khả năng hút và giữ nước trong đất và cung cấp lại cho cây trong thời gian hạn hán. Than sinh học khi kết hợp với phân bón đặc biệt là với phân hữu cơ (phân chuồng) sẽ làm tăng hiệu lực của phân bón đối với cây trồng, cải thiện độ ẩm đất giúp cây trồng chịu hạn tốt hơn. Với các kết quả nghiên cứu bón TSH và phân chuồng cho đất cát ở 3 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị và Quảng Nam cho thấy như sau:

- Bón TSH cho cây rau và cây lúa đều có hiệu quả cao thể hiện ở các chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất các công thức bón TSH đều cao hơn công thức đối chứng chỉ bón NPK, bón TSH làm tăng năng suất cải bẹ xanh từ 26 - 44%, tăng năng suất bắp cải từ 17,2 - 22,7%, tăng năng suất lúa từ 7,7 - 10,6% so với đối chứng.

- Bón TSH với mức 2,5 - 5,0 tấn/ha cho cây rau ăn lá và cây lúa có thể thay thế một phần hoặc thay thế hoàn toàn phân chuồng đối với vùng đất cát ven biển miền Trung.

- Bón TSH kết hợp phân chuồng cho thấy hiệu quả tăng lên rất rõ rệt, khi bón TSH kết hợp với phân chuồng đã làm tăng năng suất rau cải bẹ xanh từ 54 - 65%, năng suất bắp cải tăng 38,4% và năng suất lúa tăng từ 15,4 - 27,9% so với đối chứng.

I.4. Nghiên cứu đề xuất giải pháp chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng các bon thấp, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam

1. Đề tài Nghiên cứu xây dựng, thử nghiệm mô hình cộng đồng làng xã các-bon thấp, chống chịu cao nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu tại khu vực nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, mã số BĐKH.02/16-20.

Bộ tiêu chí của mô hình cộng đồng các-bon thấp, chống chịu cao nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cho các vùng nông thôn đồng bằng Bắc Bộ được tiếp cận dựa trên theo 03 nguồn vốn hợp phần chính là nguồn vốn tự nhiên; nguồn vốn xã hội; và nguồn vốn cơ sở hạ tầng, trong đó nhấn mạnh các yếu tố đảm bảo cho các sinh kế ổn định và phát triển. Nghiên cứu này tập trung xây dựng Bộ tiêu chí của mô hình cộng đồng cacbon thấp, chống chịu cao nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu cho các xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ. Các nội dung chính và kết quả đạt được như sau:

- Dựa vào việc khảo sát nghiên cứu đặc thù các làng xã nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, nghiên cứu này xây dựng bộ tiêu chí cho 3 nhóm làng xã: Nhóm 1 - Các xã nông thôn ven biển theo ranh giới xã ven biển, gồm 56 xã; Nhóm 2 - Các xã nông thôn làng nghề gồm 883 xã; Nhóm 3 - Các xã nông thôn nông nghiệp – dịch vụ: là các xã không thuộc 2 nhóm trên, không phải là xã ven biển, không phải làng nghề, có 841 xã.

- Các tiêu chí trong bộ tiêu chí được tiếp cận dựa trên theo 3 nguồn vốn hợp phần chính là nguồn vốn tự nhiên; nguồn vốn xã hội; và nguồn vốn cơ sở hạ tầng nông thôn ĐBBB, trong đó nhấn mạnh các yếu tố đảm bảo cho các sinh kế ổn định và phát triển. Bộ tiêu chí xây dựng thống nhất và không xung đột với các chương trình đang và sẽ thực hiện cho khu vực nông thôn, đặc biệt là chương trình nông thôn mới, chương trình phát triển sinh kế.

- Bộ tiêu chí đã được thử nghiệm áp dụng tính toán sức chống chịu cho xã Hải Đông là 0,105; cho Lam Điền là 0,116 đều có sức chống chịu khá thấp.

- Nghiên cứu đề xuất sử dụng các tiêu chuẩn của Bộ tiêu chí nông thôn mới để đưa vào đánh giá sức chống chịu và làm tiêu chuẩn cơ bản của Bộ tiêu chí sức chống chịu. Nghiên cứu này sẽ tiếp tục thực hiện để nâng cao tiêu chuẩn của các tiêu chí nhằm nâng cao sức chống chịu cho các làng xã nông thôn đồng bằng bắc Bộ.

2. Đề tài Nghiên cứu sử dụng và phát huy tri thức địa phương trong chủ động ứng phó với BĐKH ở các vùng, miền nước ta, mã số BĐKH.26/16-20.

Ở nước ta, các loại hình thiên tai thường xuyên xuất hiện và gây thiệt hại lớn đối với sản xuất và đời sống của người dân là bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán và xâm nhập mặn. Từ đời này sang đời khác, người dân ở các vùng miền đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và đúc kết nó thành những tri thức địa phương trong việc phòng tránh và giảm thiểu tác động của một số loại hình thiên tai. Các tri thức về dự đoán trước một số thiên tai sẽ xảy ra được khái quát lên thành những câu thành ngữ, ca dao để lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Những kinh nghiệm, tri thức địa phương trong việc phòng tránh tác động của các loại thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới; lũ lụt; hạn hán; xâm nhập mặn,… được cộng đồng người dân ở các vùng miền trải nghiệm qua thực tiễn sản xuất và đời sống hàng ngày của chính họ. Kết quả bước đầu đã tổng hợp một số kinh nghiệm tri thức địa phương ở khu vực trung du miền núi phía bắc và ven biển miền Trung cho các loại hình: dự báo thời tiết; Bảo vệ rừng, đối phó với lũ lụt; Bảo vệ nguồn nước, đối phó với hạn hán; Phòng chống bão và áp thấp nhiệt đới; Phòng chống rét; Phòng chống hiện tượng xâm nhập mặn. Đây là những kinh nghiệm quý báu, cần được tổng hợp, xây dựng thành các quy trình hoàn chỉnh trong thời gian tới.

I.5. Nghiên cứu xây dựng mô hình và ứng dụng công nghệ hiện đại trong xây dựng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đánh giá, giám sát quản lý và sử dụng đất, đất ngập nước phục vụ công tác quản lý, sử dụng đất bền vững

1. Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học, đề xuất đổi mới phương pháp luận và ứng dụng công nghệ trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nhằm góp phần quản lý, sử dụng tài nguyên đất hiệu quả, bền vững, mã số BĐKH.09/16-20.

Luật Đất đai hiện hành (năm 2013) đã dành toàn bộ Chương IV với 17 điều (từ Điều 35 đến Điều 51) quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đất đai đã dành toàn bộ Chương III với 06 điều, quy định chi tiết một số nội dung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Có 12 nội dung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định trong pháp luật đất đai hiện hành. Một số đề xuất đổi mới về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm:

- Bổ sung nguyên tắc về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất của các cấp hành chính với quy hoạch sử dụng đất quốc phòng, đất an ninh;

- Đổi mới, hoàn thiện hệ thống quy hoạch sử dụng đất, gồm: Quy hoạch sử dụng đất quốc gia; Phương án quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh trong quy hoạch tỉnh; Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; Quy hoạch sử dụng đất quốc phòng; Quy hoạch sử dụng đất an ninh. Ngoài ra, cần nghiên cứu bổ sung Phương án quy hoạch sử dụng đất vùng trong Quy hoạch vùng để đảm bảo phù hợp với Luật Quy hoạch;

- Đổi mới hoàn thiện chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý đất đai hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo sử dụng đất đai hiệu quả, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và có tính liên kết vùng. Theo đó, chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia gồm 05 chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp; 10 chỉ tiêu sử dụng đất phi nông nghiệp và 04 chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia theo khu chức năng có tính chất liên vùng;

- Nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia cần phải bổ sung “Xác định các chỉ tiêu sử dụng đất theo không gian sử dụng và có tính chất liên vùng”; nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia cần bổ sung “Xác định các công trình, dự án cấp quốc gia đến từng đơn vị hành chính cấp tỉnh và vùng kinh tế - xã hội; lập bản đồ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia theo từng vùng kinh tế - xã hội”;

- Bổ sung điều chỉnh cục bộ quy hoạch sử dụng đất trong trường hợp chỉ thay đổi chỉ tiêu sử dụng đất do cấp đó được phép xác định theo thẩm quyền hoặc thay đổi về quy mô, địa điểm và số lượng dự án, công trình trong cùng một loại đất nhưng không làm thay đổi về chỉ tiêu và khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng. Quy trình và hồ sơ điều chỉnh cục bộ quy hoạch sử dụng đất được quy định đơn giản, rút gọn.

2. Đề tài Nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại trong xây dựng mô hình quản lý biến động tài nguyên; hoàn thiện công cụ quản lý và nâng cao năng lực giám sát biến động sử dụng đất, mã số BĐKH.10/16-20.

Kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn giám sát tài nguyên đất, đã đề xuất được tiêu chí, công nghệ, phương pháp giám sát tài nguyên đất phù hợp với sự phát triển của công nghệ và đáp ứng các yêu cầu của quản lý. Các kết quả bước đầu đã thực hiện được cụ thể như sau:

(1) Đã đề xuất được các nội dung và chỉ số giám sát tài nguyên đất.

(2) Ứng dụng công nghệ hiện đại trong hình thành mô hình giám sát tài nguyên đất với các kết quả cụ thể là:

- Quy trình ứng dụng công nghệ viễn thám trong chiết xuất thông tin về tài nguyên đất, thông qua phương pháp giải đoán hướng đối tượng và phần mềm eCognition, ảnh vệ tinh VnRedSat-1 và Worldview-2;

- Quy trình tự động phân tích dữ liệu điều tra, đánh giá đất phục vụ thành lập các bản đồ chuyên đề về tài nguyên đất;

- Xây dựng được CSDL phục vụ hoạt động giám sát tài nguyên đất.

- Hai công cụ quan trọng trong mô hình giám sát tài nguyên đất cấp tỉnh được xây dựng, gồm:

+ Phần mềm hỗ trợ giám sát biến động tài nguyên đất (MoLaR1.0) cho phép tự động thành lập các bản đồ đơn tính; thành lập các bản đồ chuyên đề về tài nguyên đất; thống kê hiện trạng và thống kê biến động các chỉ tiêu về tài nguyên đất;

+ Cổng WebGIS “Giám sát tài nguyên đất cấp tỉnh” (thử nghiệm tại Uông Bí, Quảng Ninh) có chức năng cung cấp các thông tin về đất đai cho cộng đồng theo quy định của pháp luật, tiếp nhận thông tin từ cộng đồng về các vi phạm đất đai, hỗ trợ hoạt động giám sát tài nguyên đất của cơ quan quản lý.

(3) Triển khai áp dụng ở cấp tỉnh (dự kiến năm 2019 sẽ triển khai tại Quảng Ninh).

Xây dựng mô hình quản lý biến động tài nguyên; hoàn thiện công cụ quản lý và nâng cao năng lực giám sát biến động sử dụng đất bước đầu đã đạt được một số thành quả nhất định như trình bày trong bài báo này. Nghiên cứu sẽ tiếp tục được triển khai trong thời gian tới theo kế hoạch đã được phê duyệt. Các sản phẩm đạt được là công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lý đất đai của nước ta, đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

I.6. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đảm bảo an ninh nguồn nước nội địa và liên quốc gia

1. Đề tài Nghiên cứu giải pháp quy hoạch vùng Đồng Tháp Mười trở thành vùng trữ nước ngọt cho khu vực đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với BĐKH, mã số BĐKH.11/16-20.

Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và là chìa khoá trong chiến lược an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông, hải sản của Việt Nam. Tuy nhiên, diễn biến bất thường của xâm nhập mặn trong mùa kiệt ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và hoạt động sản xuất. Trong nghiên cứu này, mô phỏng dự báo xâm nhập mặn, tính toán nhu cầu sử dụng và cân bằng nước giai đoạn hiện trạng và theo kịch bản biển đổi khí hậu nước biển dâng đến năm 2050 đã được thực hiện. Những kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho quản lý khai thác tài nguyên đất và nước hợp lý. Do tác động của BĐKH nước biển dâng, nhu cầu khai thác sử dụng nước của các nước thượng lưu hệ thống sông Mê Công có nhiều thay đổi, đặc biệt là 15 năm trở lại đây, như tăng diện tích nông nghiệp khoảng 3,2 triệu ha, hàng loạt các hồ đập được xây dựng trên dòng chính và các sông nhánh… sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chế độ thủy văn, xâm nhập mặn và cân bằng nguồn nước ngọt ở ĐBSCL. Do vậy, cần có các giải pháp công trình thủy lợi và phi công trình để chủ động ứng phó với các tình huống cực đoan có thể xảy ra trong tương lai. Bước đầu các mô hình trữ nước trên kênh, trên đồng, khu rừng, vườn quốc gia được đề xuất ở vùng nghiên cứu điển hình Đồng Tháp Mười như là giải pháp công trình để chủ động nguồn nước ngọt, kiểm soát xâm nhập mặn, ứng phó với biến động dòng chảy thượng lưu và biến đổi khí hậu cho khu vực Đông bằng sông Cửu Long.

2. Đề tài Nghiên cứu đánh giá an ninh nguồn nước phục vụ xây dựng quy hoạch tài nguyên nước; áp dụng thử nghiệm trên lưu vực sông Đồng Nai, mã số BĐKH.12/16-20.

Lưu vực sông Đồng Nai là hệ thống sông lớn thứ 3 của Việt Nam, diện tích gần 41.000 km2, có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển kinh tế - xã hội của một vùng kinh tế trọng điểm trên 13 triệu dân và đóng góp khoảng 50% tổng thu nhập quốc nội. Lưu vực có khoảng hơn 200 hồ chứa thủy lợi, thủy điện lớn, trung bình, nhỏ (bao gồm cả những hồ đang vận hành, đang xây dựng và dự kiến xây dựng), trong đó một phần là các hồ chứa thủy điện còn lại chủ yếu là các hồ chứa thủy lợi. Tổng dung tích điều tiết của các hồ chứa trên lưu vực khoảng trên 6 tỷ m3, công suất khoảng 3.000 MW, trong đó chuyển gần 1 tỷ m3 nước ra ngoài lưu vực sang vùng khô hạn ven biển Bình Thuận, Ninh Thuận. Mặt khác trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc tính toán cân bằng nước theo các kịch bản bất lợi sẽ là tiền đề khoa học quan trọng để đánh giá an ninh nguồn nước cho lưu vực sông. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã tính toán cân bằng nước cho lưu vực sông Đồng Nai theo 3 kịch bản biến đổi khí hậu: RCP 8.5, RCP 6.0 VÀ RCP 4.5. Đây là những kịch bản phù hợp với điều kiện và tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam; xây dựng phương pháp và tính toán cân bằng nước theo các kịch bản bất lợi của biến đổi khí hậu tới thủy điện.

3. Đề tài Nghiên cứu các giải pháp khoa học, công nghệ hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước ven biển miền Trung trong bối cảnh BĐKH; ứng dụng thí điểm cho công trình cụ thể trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, mã số BĐKH.16/16-20.

Xâm nhập mặn (XNM) của các tầng chứa nước ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng (BĐKH và NBD) đang là thách thức đối với các nhà khoa học trong những năm gần đây. Nghiên cứu phân bố ranh giới mặn nhạt không mới, tuy nhiên sự phân bố “nêm mặn nhạt” lại luôn là vấn đề mới, đặc biệt khi thay đổi nguồn cấp, miền thoát do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đây là vấn đề chưa được quan tâm đúng mức ở Việt Nam dẫn đến các công trình khai thác do thiết kế, khai thác không hợp lý đã bị xâm nhập mặn. Việc xác định được phân bố ranh giới “nêm mặn nhạt” đảm bảo khai thác bền vững, hạn chế xâm nhập mặn đối với các tầng chứa nước có thể thực hiện.

Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng XNM của các tầng chứa nước bở rời ven biển miền Trung, xem xét kết quả đánh giá mức độ tổn thương do XNM gây ra trong bối cảnh BĐKH và NBD để đề xuất các giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu xâm nhập mặn cho khu vực. Sơ đồ ranh giới mặn-nhạt cũng như sơ đồ mạng quan trắc diễn biến xâm nhập mặn các tầng chứa nước cho 06 đồng bằng tiêu biểu của khu vực ven biển Miền Trung được thành lập dựa trên các kết quả đo của 1.528 điểm đo địa vật lý và các kết quả khảo sát và điều tra địa chất thủy văn khu vực trước đây, trên cơ sở đó đánh giá hiện trạng xâm nhập mặn và xác định các thông số ảnh hưởng tới mức độ dễ bị tổn thưởng do xâm nhập mặn của khu vực. Đối với khu vực Ninh Thuận, kết quả phân chia ranh giới mặn nhạt bằng đo địa vật lý tại Ninh Thuận được so sánh các kết quả phân tích hóa học của 75 mẫu nước mới thu thập và kết quả khảo sát điều tra bổ sung tại hiện trường cho thấy sự chênh lệch là không đáng kể. Các khảo sát điều tra, thu thập tài liệu, và thí nghiệm hiện trường đã hoàn tất và đang xây dựng bộ cơ sở dữ liệu để chọn lọc số liệu phục vụ xây dựng các mô hình để đánh giá hiện trạng xâm nhập mặn, mức độ dễ bị tổn thương do xâm nhập mặn, và thiết kế công trình điển hình hạn chế xâm nhập mặn cho tỉnh.

I.7. Ứng dụng công nghệ thông tin, viễn thám, công cụ mô hình toán, tự động hóa trong đánh giá, dự báo, vận hành điều tiết nước, giám sát tài nguyên nước, kiểm soát các hoạt động gây ô nhiễm, suy thoái nguồn nước

1. Đề tài Nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới (viễn thám, WEBGIS và Tự động hóa) xây dựng hệ thống thông tin quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước (mùa khô) theo thời gian thực nhằm ứng phó với BĐKH, áp dụng cho tỉnh Hà Tĩnh, mã số BĐKH.17/16-20.

Biến đổi khí hậu toàn cầu và khu vực đang làm trầm trọng thêm những khó khăn cũng như  mức độ ác liệt của các loại hình  thiên tai. Biến đổi khí hậu làm nhiệt độ tăng cao và nước biển dâng, dẫn đến suy giảm tài nguyên nước đặc biệt là trong mùa khô. Hiện nay, nhu cầu sử dụng nước của các ngành kinh tế, xã hội đang tăng nhanh, nhất là nước cho nông nghiệp, vì vậy việc sử dụng hiệu quả tài nguyên nước (mùa khô) phục vụ sản xuất nông nghiệp đang là vấn đề bức xúc của thực tế. Theo thống kê, tỉnh Hà Tĩnh là một trong những tỉnh chịu sự tác động mạnh nhất của vấn đề Biến đổi khí hậu tại Việt Nam. Chính vì vậy, việc xây dựng hệ thống thông tin quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước (mùa khô) theo thời gian thực thích ứng với biến đổi khí hậu tại tỉnh Hà Tĩnh sẽ giúp các nhà quản lý có thể phân phối sử dụng nguồn nước hiệu quả để cấp cho các ngành kinh tế khác nhau, tạo điều kiện cho việc giải quyết vấn đề hạn hán, thích ứng với Biến đổi khí hậu và hướng tới sự phát triển bền vững.

Hệ thống thông tin quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước (mùa khô) theo thời gian thực thích ứng với biến đổi khí hậu tại tỉnh Hà Tĩnh sau khi hoàn thành sẽ là một giải pháp đồng bộ, hiện đại trong công tác quản lý sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước (mùa khô) trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Kết quả bước đầu đã xây dựng được Hệ thống xác định diện tích cây trồng, cơ cấu cây trồng dựa trên công nghệ WEBGIS, quản lý diện tích tưới, tính toán dự báo nhu cầu dùng nước theo thời gian thực, tính toán, dự báo lượng nước thiếu hụt của các hệ thống tưới, kiểm đếm nguồn nước, dự báo nguồn nước bổ sung, hỗ trợ lập kế hoạch tưới của các hệ thống tưới, khuyến cáo điều chỉnh cơ cấu cây trồng để phù hợp với điều kiện nguồn nước của tỉnh Hà Tĩnh; kết nối giữa trung tâm điều hành với các thiết bị giám sát điều khiển ngoài hiện trường để giám sát nguồn nước và việc cấp nước của các hệ thống tưới.

2. Đề tài Nghiên cứu tác động của hoạt động tân kiến tạo đối với sự biến đổi dòng chính các lưu vực sông khu vực Miền Trung phục vụ  bảo vệ các dòng sông, thử nghiệm cho lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, mã số BĐKH.13/16-20.

Nghiên cứu các vận động tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại bao gồm một tổ hợp các phương pháp phân tích cấu trúc, địa tầng, địa mạo kết hợp với các tài liệu địa vật lý, thạch học, địa hóa, viễn thám và tuổi sẽ cung cấp các thông tin chi tiết về bản chất các vận động, sự kiện kiến tạo xảy ra gần đây và ý nghĩa của chúng trong sự hình thành, vận động và biến đổi hình thái bề mặt Trái đất, trong đó có hệ thống thủy văn. Những số liệu về sự vận động này sẽ là cơ sở quan trọng để dự báo các tai biến địa chất như động đất, sóng thần, sạt lở, ngập lụt… hiệu quả và chính xác hơn; đặc biệt là dọc các vùng nhạy cảm về tai biến và tác động lớn đến xã hội như các đới bờ hoặc dọc theo lưu vực sông. Đề tài Nghiên cứu tác động của  hoạt động tân kiến tạo đối với sự biến đổi dòng chính các lưu vực sông khu vực Miền Trung phục vụ  bảo vệ các dòng sông, thử nghiệm cho lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn” được triển khai nhằm mục đích đưa ra các thông tin định lượng về mối quan hệ và tác động chi phối của các vận động tân kiến tạo tới hình thái và tiến hóa các dòng chính của một số sông lớn dọc khu vực ven biển miền Trung. Bước đầu đã thu được một số kết quả khoa học mới, trong đó đã nhận dạng được sự phổ biến của các vận động kiến tạo hoạt động, gồm dịch chuyển đứt gãy, nâng hoặc sụt kiến tạo dọc các hệ thống sông chính. Sự vận động kiến tạo, kết hợp với sự phân bố không đồng nhất của nền địa chất là nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự biến đổi dòng chảy, tạo nên cấu hình hiện tại của các hệ thống sông và các tai biến địa chất liên quan.

I.8. Nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ tiên tiến trong đo vẽ bản đồ địa chất, điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản biển và khoáng sản ẩn sâu phần đất liền

Đề tài “Nghiên cứu xác lập tổ hợp phương pháp điều tra một số loại hình khoáng sản kim loại nội sinh ẩn sâu. Áp dụng thí điểm điều tra và khoanh vùng triển vọng vàng gốc ở địa khu Nam Ngãi”, mã số BĐKH.29/16-20 bắt đầu triển khai từ năm 2017.    

Cùng với đòi hỏi ngày càng cao về nhu cầu khoáng sản kim loại trên thế giới, công tác điều tra quặng kim loại nội sinh ẩn sâu đã trở thành một hướng phát triển chủ đạo của ngành địa chất trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thông qua kết quả tổng hợp, phân tích bối cảnh địa kiến tạo, cấu trúc địa chất khu vực, điều kiện địa chất tạo quặng và quy luật tạo quặng, lý luận về dự báo quặng ẩn sâu, bài báo lựa chọn tổ hợp phương pháp và kỹ thuật điều tra một số loại hình khoáng sản kim loại nội sinh ẩn sâu ở Việt Nam. Tổ hợp phương pháp này sẽ phát huy hiệu quả cao nhất khi có những kết quả nghiên cứu định lượng hiện đại về địa chất, kiến tạo và sinh khoáng khu vực, từ đó gia tăng mức độ thành công trong phát hiện quặng ẩn sâu với tỷ lệ cao nhất, giảm trừ mức độ rủi ro trong điều tra địa chất. Điều tra quặng kim loại nội sinh ẩn sâu đã trở thành phương hướng điều tra địa chất về khoáng sản quan trọng, phần dưới sâu của các đới tạo khoáng Việt Nam hiện nay rất có tiềm năng triển vọng quặng ẩn sâu, cần được tiến hành nghiên cứu, điều tra. Kết quả bước đầu đã xác định tổ hợp các phương pháp điều tra quặng kim loại nội sinh ẩn sâu về cơ bản gồm: (1) phương pháp viễn thám; (2) phương pháp nghiên cứu cấu trúc khống chế quặng hóa; (3) phương pháp xác định đặc điểm quặng hóa; (4) tổ hợp các phương pháp địa vật lý; (5) phương pháp địa hóa nguyên sinh; (6) phương pháp xác lập mô hình thành tạo quặng.

I.9. Nghiên cứu cơ chế quản lý về bảo vệ môi trường theo từng loại hình và khu vực; đề xuất cơ chế chính sách bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học trong mối tương quan với biến đổi khí hậu

1. Đề tài Nghiên cứu xác định các chỉ số an ninh môi trường, đề xuất khung chính sách và giải pháp quản lý, ứng phó, mã số BĐKH.15/16-20.

An ninh môi trường ngày càng được quan tâm và là vấn đề hệ trọng mà các quốc gia cần phải giải quyết. Các vấn đề an ninh môi trường có mối quan hệ đan xen giữa môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị, diễn ra rất phức tạp, khó lường, lan tỏa nhanh trong phạm vi rộng và để lại hậu quả lâu dài. Nếu an ninh môi trường không được đảm bảo thì sẽ tác động rất lớn tới nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, bất ổn về chính trị và có thể dẫn tới các tranh chấp, xung đột nghiêm trọng giữa các đối tượng trong xã hội, ảnh hưởng tới an ninh quốc gia. Việt Nam đang phải đối mặt với các thách thức an ninh môi trường lớn, trong đó nổi lên một số vấn đề cấp bách, nổi cộm, bao gồm: biến đổi khí hậu; an ninh nguồn nước, an ninh môi trường biển bị đe dọa; ô nhiễm tại các khu vực trọng điểm và xuyên biên giới; suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học. Vì vậy, Việt Nam cần sớm xây dựng công cụ đánh giá, kiểm soát mức độ an ninh môi trường và có các giải pháp đồng bộ, kịp thời nhằm đảm bảo an ninh môi trường ở Việt Nam.

Bộ Chỉ số an ninh môi trường được xây dựng trên các khía cạnh: (1) Biến đổi khí hậu (khả năng thích ứng biến đổi khí hậu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên); (2) An ninh nguồn nước (tranh chấp nguồn nước xuyên biên giới; xung đột trong sử dụng nguồn nước giữa các ngành kinh tế, giữa doanh nghiệp và người dân); (3) An ninh môi trường biển (năng lực ứng phó với rủi ro ô nhiễm môi trường biển ở một số khu vực trọng điểm); (4) Ô nhiễm tại các khu vực trọng điểm (khu công nghiệp, làng nghề, khu đô thị) và ô nhiễm xuyên biên giới (nhập khẩu chất thải nguy hại, nguy cơ từ các nhà máy điện hạt nhân); (5) Suy giảm tài nguyên rừng (rừng tự nhiên) và đa dạng sinh học (sinh vật ngoại lai, động vật hoang dã). Bộ Chỉ số an ninh môi trường là công cụ giúp các nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách kiểm soát được vấn đề môi trường ở Việt Nam và đưa ra các chính sách, giải pháp ngăn chặn, ứng phó kịp thời nhằm đảm bảo an ninh môi trường. Một số giải pháp nhằm đảm bảo an ninh môi trường tại Việt Nam gồm:

- Cần sớm xây dựng Luật An ninh môi trường cho Việt Nam, đồng thời hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đối với từng vấn đề an ninh môi trường, nhằm ngăn ngừa, ứng phó với các thách thức an ninh môi trường ở Việt Nam.

- Xây dựng công cụ kiểm soát an ninh môi trường, cụ thể là bộ tiêu chí và bộ chỉ số an ninh môi trường phù hợp với điều kiện của Việt Nam, nhằm phục vụ công tác quản lý và hoạch định chính sách. Công cụ này giúp cung cấp thông tin cho các nhà quản lý và nhà hoạch định chính sách để đánh giá, kiểm soát mức độ an ninh môi trường ở nước ta và quản lý rủi ro hiệu quả.

- Thúc đẩy, ưu tiên hợp tác quốc tế và khu vực để trao đổi, chia sẻ thông tin, giải quyết các vấn đề môi trường hệ trọng, vấn đề môi trường xuyên biên giới; tranh thủ các nguồn lực bên ngoài như nguồn vốn, khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản lý...

- Đầu tư thêm các trạm quan trắc ở những khu vực có nguy cơ cao nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các sự cố có thể xảy ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực, bộ máy của các cơ quan dự báo khí tượng, khí hậu, đồng thời phải lồng ghép, tính đến yếu tố biến đổi khí hậu vào trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình của Trung ương cũng như của địa phương.

- Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến nhằm sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, xử lý ô nhiễm môi trường, khắc phục hậu quả thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Đồng thời, nghiên cứu phát triển các loại năng lượng sạch thay thế.

- Tăng cường, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục về công tác bảo vệ môi trường và kỹ năng sinh tồn cũng như kỹ năng xử lý khi xảy ra sự cố, thảm hoạ về môi trường.

- Cần thay đổi tư duy phát triển, đặc biệt là quan điểm không phát triển kinh tế bằng mọi giá, mà cần chú trọng tới môi trường, đảm bảo hài hoà giữa các mục tiêu. Đồng thời, cần kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm có thể xả trực tiếp ra môi trường mà không qua xử lý.

2. Đề tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất hoàn thiện cơ sở pháp lý về đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư và kiểm soát, giám sát môi trường các cơ sở sản xuất, kinh doanh đang hoạt động. Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật đánh giá tác động môi trường cho dự án khai thác khoáng sản, sản xuất thép, mã số BĐKH.27/16-20.  

Nước ta đã và đang hội nhập ngày càng sâu vào các vấn đề kinh tế, tài chính, chính trị, an ninh, khoa học, công nghệ và môi trường toàn cầu. Do vậy, công tác thực hiện ĐTM, nhất là cho các dự án quốc tế hoặc được các định chế tài chính quốc tế cho vay vốn cũng cần “hài hòa” với các quy định của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam đã cam kế trong Tuyên bố Hà Nội (Hanoi Core Statement on Aid Effectiveness, 6/2005). Kết quả nghiên cứu bước đầu có thể tóm tắt như sau:

Thứ nhất, cần áp dụng các nguyên tắc cơ bản của ĐTM theo chuẩn mực quốc tế, bao gồm 9 nguyên tắc chung và 7 nguyên tắc đặc thù do Hiệp hội ĐTM quốc tế (IAIA) và các tổ chức quốc tế khác đề xuất. Các nguyên tắc chung bao gồm: (i) ĐTM cần được áp dụng như là công cụ để hỗ trợ đạt được phát triển bền vững; (ii) ĐTM cần gắn kết quy hoạch phát triển hiện có vào quá trình thẩm định dự án; (iii) ĐTM cần áp dụng như là công cụ để thực hiện quản lý môi trường chứ không phải là 1 báo cáo để dự án được thẩm định; (iv) ĐTM cần gắn kết với chu trình sống của dự án để đảm bảo rằng các thông tin môi trường là được cung cấp ở thời điểm quyết định thích hợp. Như vậy cần có phối hợp và phản hồi thường xuyên giữa đội thực hiện ĐTM và đội thiết kế dự án và chủ dự án để đảm bảo có thể thay đổi vị trí và thiết kế dự án nhằm phòng tránh hoặc giảm nhẹ các tác động xấu ở mức cao nhất có thể; (v) ĐTM cần áp dụng đối với tất cả các hoạt động được dự án đề xuất mà có thể gây tác động xấu rõ rệt đến môi trường và sức khỏe. Về mặt xã hội, ĐTM cần chú ý tác động đến các nhóm dễ tổn thương như các dân tộc thiểu số bản địa, cộng đồng địa phương có cuộc sống phụ thuộc vào tài nguyên; (vi) ĐTM cần bao gồm phân tích các phương án thay thế đối với các hoạt động đã đề xuất. Quá trình này cần thực hiện từ giai đoạn sớm của dự án; (vii) ĐTM cần tạo các cơ hội có ý nghĩa cho tham vấn cộng đồng. Tham vấn cộng đồng cần thực hiện trong suốt quá trình ĐTM từ: Xác định phạm vi ĐTM; báo cáo giữa kỳ; báo cáo cuối cùng, quá trình thẩm định và giai đoạn sau thẩm định ĐTM; (viii) ĐTM cần được thực hiện bằng chuyên môn đa ngành hoặc liên ngành, sử dụng khoa học thực tế tốt nhất; (ix) ĐTM cần gắn kết các thông tin về tác động xã hội, kinh tế và sinh - lý (biophysical impacts) đến mước tối đa có thể.

Để có ĐTM thực tế tốt cần thực hiện 07 nguyên tắc đặc thù sau:

(i)  ĐTM cần bắt đầu bằng quy trình sàng lọc dự án để xác định dự án có cần nghiên cứu môi trường chi tiết hay không. Để sàng lọc cần áp dụng các kỹ thuật: Tra bảng danh mục dự án yêu cầu ĐTM (do Nhà nước ban hành); Xem xét các tiêu chí về vùng nhạy cảm của dự án; Sử dụng bảng kiểm tra (checklist) về tác động môi trường;  Thực hiện ĐTM sơ bộ; Kết hợp các kỹ thuật trên.

(ii)  Cần lập Điều khoản tham chiếu (TOR) (đề cương nghiên cứu) cho ĐTM

(iii)  ĐTM cần phải thực hiện nghiên cứu theo đúng TOR;

(iv)  ĐTM cần cung cấp đủ thông tin cho việc ra quyết định dự án bao gồm: Tóm tắt thực hiện (executive summary); kết quả nghiên cứu ĐTM; nêu rõ mức độ thông tin, số liệu sử dụng đánh giá và tính chưa chắc chắn của các dự báo; các phụ lục kỹ thuật và bản báo cáo dễ nhìn, dễ đọc.

(v)  ĐTM cần được xem xét lại dựa theo các nội dung yêu cầu trong TOR.

(vi) Các thông tin của báo cáo ĐTM cần được đưa vào văn bản “quyết định cuối cùng”của dự án.

(vii)  ĐTM cần bao gồm giai đoạn sau quyết định của quản lý tác động và các hoạt động tuân thủ: giám sát giảm thiểu tác động; quan trắc/kiểm toán tác động và biện pháp giảm thiểu; các hệ thống thông tin giữa các kỹ sư công trường, tư vấn môi trường và cơ quan chức năng; trách nhiệm cộng đồng, nâng cao năng lực thể chế và đào tạo.

Thứ hai, tiến hành sửa đổi các quy định về ĐTM cho cả 3 cấp độ Luật (có thể có Luật về ĐTM), Nghị định, Thông tư, trong đó phân định rõ loại dự án phải thực hiện ĐTM, mức độ chi tiết cho từng nhóm dự án (tiếp cận theo mức độ nhạy cảm, phức tạp của dự án về khía cạnh môi trường); quy định rõ về phạm vi, quy trình, các bước/khâu ĐTM; cách thức, nguyên tắc tham vấn cộng đồng trong quá trình ĐTM (cần công khai thông tin rộng rãi cho chính quyền, nhân dân địa phương, các đơn vị, cá nhân quan tâm, lắng nghe, tiếp thu ý kiến của họ về dự án, về các vấn đề môi trường và xã hội trong quá trình ĐTM); quy định rõ phạm vi, vai trò, thời hiệu của văn bản thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM (Quyết định phê duyệt hoặc Giấy phép môi trường hoặc phương án khác); rà soát thẩm quyền thẩm định báo cáo ĐTM; nghiên cứu xây dựng các quy định cụ thể đối với việc kiểm tra, giám sát công tác BVMT cho tất cả các giai đoạn của dự án: chuẩn bị- xây dựng - vận hành thử nghiệm - vận hành thương mại - đóng cửa dự án, trong đó nêu rõ trách nhiệm của các bên từ chủ dự án đến các cơ quan quản lý môi trường các cấp; định nghĩa rõ ràng các khái niệm như dự án, chủ dự án, phạm vi dự án, công nghệ, phạm vi tác động; xây dựng quy định về kinh phí lập ĐTM, hệ thống chứng chỉ hành nghề dịch vụ ĐTM; đề xuất khung pháp lý để giải quyết cho các trường hợp khi dự án có thay đổi về phạm vi, quy mô, công suất, thời gian tồn tại hay các thay đổi khác của dự án.

Thứ ba, cần xây dựng quy trình kỹ thuật ĐTM, đề xuất cấu trúc, nội dung của báo cáo ĐTM cho từng danh mục dự án; xây dựng quy trình kiểm tra, xác nhận công tác BVMT các các giai đoạn của dự án cho từng danh mục dự án theo cấp độ khác nhau; xây dựng các hướng dẫn kỹ thuật thẩm định báo cáo ĐTM, hình thành bộ tiêu chí thẩm định ĐTM thông qua việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Cn xem mỗi ĐTM tập hợp các nghiên cứu chuyên sâu về c thành phần môi trưng vật lý, sinh thái, văn hóa, kinh tế, hi; khoa học dbáo và công nghệ môi trường. Như vy, mi ĐTM phải tp hợp nhiều chuyên gia có kiến thức và kinh nghim ở nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác nhau. Ngoài ra, hội đồng thm đnh phải gm các chuyên gia trong nhiều lĩnh vc, được đào tạo v ĐTM.

Thứ , cần sàng lọc và quyết định đầu tư dự án trên cơ sở thấm nhuần quan điểm phát triển bền vững - phát triển kinh tế gn kết với bảo vệ tài nguyên, môi trưng an sinh xã hội từ chủ đầu tư cho đến tất các cấp có thẩm quyền. Xoá bỏ quan điểm xem ĐTM là một thủ tục hành chính để được cấp phép hoặc chấp thuận đầu tư, thay vào đó, cần xác định ĐTM là công cụ khoa học - kỹ thuật - pháp lý, là một trong những căn cứ quan trọng để đi đến quyết định đầu tư hay không đầu tư dự án đó hoặc phải thay đổi phương án khác cho dự án.

Hệ thống pháp luật về ĐTM khoa học, toàn diện, có tính thực tiễn và tuân thủ nghiêm minh sẽ giúp Việt Nam loại trừ được những bất cập liên quan đến công tác ĐTM như hiện nay. Đối với các dự án phức tạp, nhạy cảm về môi trường cần xem công tác giám sát môi trường sau khi thẩm định ĐTM là yếu tố quan trọng nhất trong quản lý môi trường của dự án. Điều quan trọng là chủ dự án, cơ quan tư vấn, cơ quan thẩm định, lãnh đạo các cấp cần phải nhận diện các vấn đề phức tạp về môi trường của dự án có thể nảy sinh để quyết định phải giám sát đến mức độ nào đối với dự án đó.

3. Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện khung cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia và xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường theo chuyên ngành. Thử nghiệm ứng dụng và xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường cho một chuyên ngành, mã số BĐKH.28/16-20. 

Xây dựng khung kiến trúc tổng thể cơ sở dữ liệu (CSDL) môi trường quốc gia là nhu cầu tất yếu, nhằm phục vụ quản lý hiệu quả việc thu thập, khai thác, chia sẻ và phân tích thông tin môi trường ở Việt Nam. Khung kiến trúc tổng thể cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, xác định rõ các thành phần, bộ phận và mối quan hệ giữa các CSDL thành phần trong hệ thống các CSDL về lĩnh vực môi trường. Trên cơ sở nghiên cứu Khung kiến trúc chính phủ điện tử (CPĐT), Kiến trúc chính phủ điện tử của ngành tài nguyên và môi trường, các văn bản quy phạm pháp luật về môi trường và phương pháp xây dựng kiến trúc TOGAF, xây dựng kiến trúc tổng thể CSDL môi trường quốc gia phục vụ thu thập, khai thác, chia sẻ và phân tích thông tin môi trường ở Việt Nam với các thành phần: Kiến trúc nghiệp vụ; Kiến trúc dữ liệu; Kiến trúc ứng dụng; Kiến trúc công nghệ và Kiến trúc an ninh, bảo mật.

Kiến trúc tổng thể CSDL môi trường quốc gia là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và ban hành các quy định kỹ thuật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn cho hệ thống CSDL môi trường; Tổ chức xây dựng, triển khai các hệ thống thông tin phục vụ việc thu thập, quản lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu môi trường một cách thống nhất trên toàn Quốc. Kiến trúc tổng thể cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia được xây dựng phù hợp với Kiến trúc chính phủ điện tử Việt Nam nói chung và Kiến trúc chỉnh phủ điện tử ngành ngành tài nguyên môi trường nói riêng, đáp ứng được các yêu cầu quản lý nhà nước về môi trường một cách đồng bộ từ Trung ương đến Địa phương. Kiến trúc tổng thể CSDL môi trường quốc gia là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và ban hành các quy định kỹ thuật, các tiêu chuẩn, quy chuẩn cho hệ thống CSDL môi trường; Tổ chức xây dựng, triển khai các hệ thống thông tin phục vụ việc thu thập, quản lý, chia sẻ và khai thác dữ liệu môi trường một cách thống nhất trên toàn quốc.

4. Đề tài Nghiên cứu thiết kế mạng thông tin cảm biến không dây đa chặng và xây dựng cổng thông tin tích hợp hệ thống quan trắc môi trường và một số yếu tố khí tượng thủy văn phục vụ giám sát môi trường và cảnh báo thiên tai, mã số BĐKH.30/16-20. 

Mặc dù đã có một số nước trên thế giới triển khai mạng cảm biến không dây ứng dụng cho giám sát, quan trắc môi trường nước, không khí,… nhưng các hệ thống này không phải là hệ thống mở và là bí mật về công nghệ. Hơn nữa, hệ thống mạng cảm biến giám sát môi trường ở các nước này không thể áp dụng ngay vào Việt Nam vì mạng cảm biến phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm, tính chất cụ thể của từng vùng, từng địa phương. Lấy ví dụ việc thiết kế cho mạng cảm biến giám sát chất lượng nước, khí thải ở các nhà máy khác với các sông, hồ. Việc lắp đặt các nút cảm biến tại vị trí nào, với mật độ bao nhiêu là khác nhau với từng yêu cầu bài toán và từng địa hình cụ thể. Do vậy, thiết kế mạng thông tin cảm biến không dây đa chặng và xây dựng cổng thông tin tích hợp hệ thống quan trắc môi trường và một số yếu tố khí tượng thủy văn phục vụ giám sát môi trường và cảnh báo thiên tai là nhu cầu cấp thiết hienj nay ở nước ta. Kết quả nghiên cứu bước đầu đã giới thiệu công nghệ mạng cảm biến không dây (WSN-wireless sensor networks), một số ứng dụng của mạng WSN trong một số lĩnh vực như nông nghiệp chính xác, hệ thống báo cháy, quan trắc từ xa tài nguyên và môi trường. Từ đó đề xuất các vấn đề cần nghiên cứu, áp dụng và triển khai vào hệ thống quan trắc tự động, từ xa, liên tục một số tham số môi trường. Mạng cảm biến không dây có thể được ứng dụng vào việc xây dựng hệ thống giám sát tự động trong nhiều lĩnh vực như khí tượng, thuỷ văn, biển, môi trường đất. Hệ thống cho phép triển khai với các khu vực rời rạc, không tập trung, linh hoạt trong di chuyển vị trí quan trắc nhưng cho phép quản lý tập trung, phục vụ cho công tác giám sát, cảnh báo và quản lý.

I.10. Xác lập quan hệ và lượng giá biến đổi khí hậu - tài nguyên - môi trường và đề xuất các giải pháp phát triển bền vững, quản lý tổng hợp một số vùng trọng điểm

1. Đề tài Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xác lập phương pháp lượng giá và quy trình kết chuyển các giá trị của tài nguyên và môi trường vào hệ thống hạch toán tài khoản quốc gia mới ở Việt Nam, mã số BĐKH.14/16-20.

Kể từ những năm 90 của thế kỷ XX các tổ chức quốc tế như các cơ quan của Liên Hợp Quốc (UN), Ngân hàng Thế giới, ... đã nỗ lực nghiên cứu để phát triển một hệ thống hạch toán tích hợp kinh tế với môi trường (SEEA) nhằm phản ánh đầy đủ hơn các thông tin về tài nguyên và môi trường (TN&MT) trong nền kinh tế. Bản chất của SEEA chính là việc tích hợp các tài khoản mới phản ánh các thông tin TN&MT vào trong hệ thống hạch toán tài khoản quốc gia truyền thống (SNA) để thấy được các thông tin thống nhất về hiện trạng và xu hướng khai thác, sử dụng, dự trữ, bảo tồn, ô nhiễm, suy thoái TN&MT do các hoạt động của nền kinh tế.

Trên cơ sở phương pháp luận của khung SEEA, đặc trưng của từng dạng tài nguyên, vấn đề môi trường và hướng tiếp cận trong nghiên cứu đã hệ thống hóa các luận cứ, kinh nghiệm quốc tế, hệ thống nhu cầu chính sách ở Việt Nam để đề xuất xác lập các phương pháp lượng giá và quy trình kết chuyển các giá trị của TN&MT vào trong hệ thống SNA tích hợp phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Với cách tiếp cận như vậy sẽ giúp cung cấp hệ phương pháp luận toàn diện và thống nhất nhằm có được sự nhìn nhận ra hệ thống các thông tin, chỉ tiêu phản ánh tính liên ngành, liên địa phương, liên vùng về TN&MT trong nền kinh tế. Trên cơ sở đó, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và người nghiên cứu sẽ ra các quyết định hoặc đề xuất phương án giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội với sử dụng hiệu quả TN&MT ở từng cấp độ trên quan điểm gắn kết kinh tế và TN&MT. Để thực hiện được những đề xuất này ở Việt Nam cần có sự chấp thuận và sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành. Bên cạnh đó, cần có thời gian để thử nghiệm, triển khai mở rộng nhằm từng bước đúc rút các bài học để hoàn thiện qua các năm. Về lâu dài, để thực hiện thành công SEEA cần có cơ sở khoa học vững chắc và có lộ trình thực hiện từng bước, có sự đầu tư bài bản và hỗ trợ của các chuyên gia giỏi, nhất là các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm, các chuyên gia hạch toán TN&MT của Liên Hợp quốc hỗ trợ. SEEA là đề xuất khởi xướng của UN, một số nước đã thực hiện thành công, do vậy đề tài tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm của các nước này, từ đó đề xuất vận dụng phù hợp vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

2. Đề tài Nghiên cứu lượng giá thiệt hại kinh tế do các hiện tượng khí tượng thuỷ văn cực đoan gây ra trong bối cảnh biến đổi khí hậu và đề xuất các giải pháp quản lý rủi ro cho các tỉnh ven biển Miền Trung Việt Nam, mã số BĐKH.22/16-20.  

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một thách thức lớn với sự phát triển của Việt Nam trong thế kỷ 21. Ứng phó với BĐKH để hướng tới sự phát triển bền vững là mục tiêu chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, cần huy động một nguồn tài chính từ xã hội để đảm bảo việc ứng phó với BĐKH có hiệu quả. Bài viết này phân tích thực trạng tài chính cho BĐKH tại Việt Nam, những thách thức về huy động nguồn lực mà Việt Nam đang gặp phải cũng như đề xuất một số hàm ý về thu hút và sử dụng nguồn lực tài chính cho BĐKH nhằm thực hiện các cam kết mà đất nước theo đuổi. Kết quả bước đầu đã phân tích làm rõ nguồn tài chính cho ứng phó với BĐKH ở Việt Nam hiện được khai thác chủ yếu từ các nguồn sau: ngân sách Trung ương, chương trình hỗ trợ ứng phó với biến đổi khí hậu (SP-RCC); nguồn viện trợ ODA, đầu tư của khu vực tư nhân ứng phó với BĐKH. Từ đó, đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam về huy động và sử dụng nguồn tài chính cho BĐKH, bao gồm: hàm ý chính sách cho khu vực nhà nước (thuế bảo vệ môi trường; áp dụng phí bảo vệ môi trường với khí thải; đẩy mạnh hợp tác công tư PPP trong các dự án ứng phó BĐKH); huy động nguồn vốn cho BĐKH từ khu vực tư nhân (hỗ trợ khối tư nhân tiếp cận với các nguồn vốn đầu tư BĐKH, phát triển trái phiếu xanh để huy động vốn cho BĐKH); giải pháp khuyến nghị cho thu hút vốn quốc tế cho ứng phó BĐKH.

I.11. Nghiên cứu xây dựng mô hình trình diễn lồng ghép ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường trong quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, phát triển bền vững của địa phương và các vùng trọng điểm

Đề tài “Nghiên cứu xác lập bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững vùng ven biển Việt Nam, thử nghiệm ứng dụng cho một vùng điển hình và đề xuất giải pháp nhân rộng”, mã số BĐKH.23/16-20 được triển khai nhằm thực hiện nội dung này của Chương trình.

Nghiên cứu đánh giá tính bền vững vùng ven biển có vai trò quan trọng trong việc duy trì tính bền vững và sự cân bằng của các hệ thống tự nhiên, xã hội và con người nhằm đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa con người và thiên nhiên, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ cơ sở khoa học và nhu cầu thực tiễn về đánh giá tính bền vững của vùng ven biển Việt Nam trong bối cảnh tác động biến đổi khí hậu ngày càng hiện hữu, chủ quyền và an ninh quốc gia cũng gặp nhiều thách thức trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở đó, quy trình đánh giá tính bền vững và bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững vùng ven biển gồm 41 tiêu chí (161 chỉ tiêu), đáp ứng 15 mục tiêu duy trì tính bền vững của hệ thống tự nhiên, xã hội và con người vùng ven biển đã được đề xuất cụ thể. Nhằm phục vụ cho bộ chỉ tiêu này, các dữ liệu dạng GIS về đặc trưng cốt lõi và tính phân dị của các hợp phần tự nhiên, xã hội, con người cũng đã được xây dựng và thu thập cho toàn bộ vùng ven biển Việt Nam, đáp ứng yêu cầu cập nhật liên tục theo không gian và thời gian, là cơ sở để đánh giá diễn biến của tính bền vững vùng ven biển. Các dữ liệu này là tiền đề quan trọng để tiến hành phân vùng tổng hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội và con người ảnh hưởng tới duy trì tính bền vững vùng ven biển. Kết quả nghiên cứu về cơ bản đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận và nhu cầu thực tiễn về phát triển, bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận, bộ tiêu chí, quy trình đánh giá và lập bản đồ tính bền vững của vùng ven biển, là cơ sở để nâng cao khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ tài nguyên môi trường, định hướng phát triển bền vững vùng ven biển. Ngoài ra, các kết quả này cũng là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các lĩnh vực khoa học liên ngành, khoa học bền vững và sử dụng khai thác tài nguyên - môi trường vùng ven biển Việt Nam.

I.12. Nghiên cứu, chuyển giao và áp dụng công nghệ mới, thiết bị, hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho công tác chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường

1. Đề tài Nghiên cứu thử nghiệm chế tạo thiết bị tách ẩm từ không khí quy mô nhỏ phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân ứng phó với hạn hán do tác động của biến đổi khí hậu, mã số BĐKH.06/16-20.

Trong bối cảnh toàn cầu đang phải ứng phó với biến đổi khí hậu, trước nguy cơ thiếu nước, đặc biệt là nước ngọt và nước sạch là một thách thức đối với sự tồn vong của nhân loại, các công nghệ và kỹ thuật hiện đại được đặc biệt quan tâm và nghiên cứu nhằm tìm ra nguồn nước mới đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cũng như tồn tại của loài người. Hệ thống thiết bị tách ẩm với công suất thiết kế là 10 lít/ngày đã được nghiên cứu tính toán, thiết kế, chế tạo và lắp đặt. Hệ thống thiết bị đã vận hành với công suất 1,8 kW và sản xuất ra khoảng 2,1 lít nước mỗi giờ, đáp ứng yêu cầu thiết kế, nhu cầu cung cấp nước cho sinh hoạt của người dân. Thiết bị tách ẩm với công suất 10 lít/ngày sử dụng cả 2 nguồn điện (nguồn điện từ lưới điện quốc gia và nguồn điện từ pin năng lượng mặt trời) đã được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành. Kết luận về điều kiện vận hành là: với độ ẩm 45%, thiết bị sản xuất được 1.5 lít nước trong khoảng thời gian 01 giờ, tiêu tốn hết 1,8 kW điện.

2. Đề tài Nghiên cứu chế tạo, ứng dụng bê tông rỗng thoát nước nhanh và kết cấu rỗng thu chứa nước trong công trình hạ tầng kỹ thuật nhằm giảm thiểu úng ngập khi mưa, điều tiết nước trong đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, mã số BĐKH.07/16-20.

Bê tông rỗng thoát nước (BTRTN) chưa được nghiên cứu và ứng dụng nhiều tại Việt Nam, đặc điểm nổi bật của bê tông này là có hệ thống lỗ rỗng hở thông nhau cho nước chảy qua. Hai chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá chất lượng BTRTN là hệ số thấm và cường độ, nhưng đây lại là hai hàm ngược nhau. Vì vậy, cần có các nghiên cứu cải thiện các tính chất của loại bê tông này như: tính công tác, cường độ,… một trong các biện pháp hiệu quả đó nâng cao chất lượng của hồ chất kết dính (CKD). Trong bài báo này, tác giả cải thiện tính chất của hồ CKD bằng việc sử dụng phụ gia khoáng silicafume (SF) và tro bay (FA) với hàm lượng 10%; 20% và 30% với từng loại riêng rẽ và sử dụng kết hợp 10%SF với 10-30% FA. Tác giả nghiên cứu 2 tính chất điển hình của CKD đó là: độ nhớt của hồ CKD thông qua thời gian chảy qua côn Marsh, độ nhớt tức thời xác định bằng máy SV-10 và cường độ của đá CKD. Từ những kết quả thí nghiệm và phân tích trên chất kết dính sử dụng 2 loại phụ gia khoáng dùng trong BTRTN cho phép đưa ra một số kết luận như sau:

- Theo kết quả thí nghiệm và độ nhớt và cường độ, đồng thời xét về hiệu quả kinh tế, kỹ thuật thì hàm lượng sử dụng phụ gia SF hợp lý là 10%, với hàm lượng này không những cải thiện được tính chất của hồ CKD mà còn tăng đáng kể cường độ của đá CKD (tăng khoảng 40% so với mẫu đối chứng);

- Khi chỉ sử dụng phụ gia FA để thay thế xi măng thì hàm lượng hợp lý là 20%, nếu tăng cao sẽ làm suy giảm đáng kể cường độ và xảy ra hiện tượng tách nước trong hồ CKD;

- Khi kết hợp 2 loại phụ gia khoáng là SF và FA thì chúng sẽ có tác dụng tương hỗ nhau như: khắc phục được hiện tượng tách nước, duy trì tính công tác tốt, đồng thời tăng cường độ của đá CKD. Theo phân tích các kết quả thí nghiệm thì tỷ lệ hợp lý sử dụng hỗn hợp 2 loại phụ gia này là: 10%SF với 20%FA;

- Các kết quả về CKD giúp chúng ta có cơ sở để thiết kế, lựa chọn cấp phối BTRTN như: tính ra lượng dùng hồ lớn nhất, tính độ rỗng, hệ số thấm, cường độ  của BTRTN.

II. ĐÁNH GIÁ, KIẾN NGHỊ

2.1. Đánh giá chung

Năm 2018 mở mới 12 đề tài, trong đó đợt 1 đã phê duyệt triển khai thực hiện là 08 đề tài và đợt 2 là 04 đề tài. Sau khi phê duyệt các đề tài bổ sung, tổng số đề tài thuộc Chương trình sẽ là 42 đề tài. Theo Khung Chương trình đã phê duyệt, tất cả các nội dung chi tiết của Chương trình đều được triển khai với số lượng từ 01 đến 05 đề tài/nhiệm vụ. Được sự quan tâm của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, kinh phí các đề tài được cấp đảm bảo theo đúng tiến độ, tạo điều kiện để hoàn thành nội dung theo thuyết minh được phê duyệt.

Các đề tài thuộc Chương trình đã đáp ứng được mục tiêu của Quyết định số 172/QĐ-BKHCN ngày 29 tháng 01 năm 2016. Cụ thể: Ứng dụng có hiệu quả công cụ, mô hình tiên tiến trong giám sát biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, đề xuất giải pháp nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của hạn hán, xâm nhập mặn do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng; cung cấp luận chứng khoa học cho việc đánh giá tiềm năng, giá trị của một số tài nguyên quan trọng trên đất liền và biển như tài nguyên đất, tài nguyên khoáng sản, nguồn thủy hải sản, đồng thời đề xuất các định hướng quy hoạch, quản lý và khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên; lượng giá biến đổi khí hậu - tài nguyên - hệ sinh thái, theo đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững.

Về nội dung nghiên cứu, các đề tài được phân bố hợp lý cho cả 3 nội dung của Chương trình. Nội dung “Lựa chọn hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu đã được nghiệm thu thuộc Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011 - 2015” sẽ được thực hiện theo nhiệm vụ giao trực tiếp cho Văn phòng Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia về quản lý tài nguyên môi trường và biến đổi khí hậu.

Sản phẩm của các đề tài bước đầu đã đề xuất được chính sách, công nghệ, giải pháp trong ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường đặc biệt là công nghệ trong sản xuất nông nghiệp; thử nghiệm mô hình trình diễn lồng ghép ứng phó với biến đổi khí hậu như mô hình cộng đồng làng xã các-bon thấp, chống chịu cao, mô hình phát triển kinh tế ứng phó với xâm nhập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, ...; Tất cả các đề tài đều đã hoàn thành các báo cáo công việc theo tiến độ, hoàn thiện theo góp ý của Đơn vị quản lý và chuyên gia độc lập.

Theo đặt hàng đối với các đề tài đã được phê duyệt có 101 bài báo đăng trên tạp chí trong nước, 40 bài báo được chấp nhận đăng trên tạp chí quốc tế, 02 sách chuyên khảo. Đến nay, các đề tài đã đăng 13 bài báo trên tạo chí khoa học trong nước, 05 bài báo trên tạp chí quốc tế. Sau khi kết thúc Chương trình đảm bảo 100% đề tài có kết quả được công bố trên tạp chí khoa học công nghệ có uy tín quốc gia và 100%  đề tài có kết quả được công bố quốc tế (vượt 80% so với chỉ tiêu). Chương trình sẽ đào tạo được 76 thạc sỹ, hỗ trợ đào tạo 38 tiến sỹ (vượt 20% về đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ. Đến nay, các đề tài đã đào tạo 08 thạc sỹ và đang hỗ trợ đào tạo 08 tiến sỹ. Đối với chỉ tiêu về sở hữu trí tuệ, Chương trình cần đẩy mạnh và khuyến khích các đề tài đăng ký sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo thực hiện đạt chỉ tiêu đã được Bộ Khoa học và công nghệ phê duyệt. Với việc phê duyệt nhiệm vụ như trên, đến khi kết thúc Chương trình sẽ đảm bảo được chỉ tiêu về cơ cấu các nhiệm vụ và chỉ tiêu ứng dụng thực tiễn.

2.2. Đề xuất, kiến nghị

a) Đề nghị được giảm bớt chỉ tiêu đăng ký về sở hữu trí tuệ: Theo đăng ký có 30% số đề tài có kết quả được chấp nhận đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu trí tuệ hoặc giải pháp hữu ích cho sáng chế, do các đề tài nghiên cứu đa phần sản phẩm là các báo cáo nên không thể đăng ký sở hữu trí tuệ mà chỉ đăng ký được tác quyền (quyền tác giả) vì không đủ các chỉ tiêu để đăng ký sở hữu trí tuệ.

b) Đề nghị Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu cơ chế tài chính đặc thù riêng đối với việc đấu thầu cho công việc phân tích mẫu, vì hiện nay các đề tài có thực hiện phân tích mẫu gặp khó khăn trong công tác đấu thầu do các chỉ tiêu cần phân tích mẫu rất nhiều mà một hay vài đơn vị không thể cung cấp được, theo quy định Luật đấu thầu không thể xé nhỏ nội dung công việc do vậy việc tổ chức đấu thầu gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nhà thầu và ít đơn vị muốn tham gia đấu thầu.

c) Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ sớm sửa đổi Thông tư hướng dẫn đánh giá nghiệm thu các đề tài cấp quốc gia để đảm bảo đồng bộ, thống nhất với các quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ hiện nay./.

 

 

Các văn bản khác.......................................................................................................................[Quay lại]